top of page

Về bản chất của vốn, tích luỹ và sử dụng vốn - Of the nature, accumulation and employment of stock

Updated: Mar 2



Sự thịnh vượng của các quốc gia - Adam Smith

The wealth of nations - Adam Smith


Quyển 2. Về bản chất của vốn, tích luỹ và sử dụng vốn - Of the nature, accumulation and employment of stock


(2026.01.09)

Giới thiệu - Introduction

Khi chưa có sự phân chia lao động, chưa có sự trao đổi hàng hoá, thời kỳ tự cung tự cấp thì không có nhu cầu tích trữ vốn, và thật ra khái niệm vốn cũng chưa được hình thành.

Ngược lại, khi xã hội phát triển bắt đầu từ sự trao đổi hàng hoá và phân chia lao động thì một người phải phụ thuộc vào xã hội để cung cấp đủ nhu yếu phẩm cho bản thân anh ta, từ đó phát sinh nhu cầu tích luỹ vốn để trao đổi lấy thứ mình cần tại thời điểm cần thiết.

Tiếp theo là sự phát triển của công cụ lao động và chuyên môn hoá làm tăng tay nghề của người lao động, dẫn đến phải tích luỹ vốn để tích trữ tư liệu sản xuất nhiều tương ứng với mức sản xuất của xã hội.


(2026.01.12)

Chương 1. Về việc phân chia của cải tích luỹ - Of the division of stock

Khi của cải của một người dư thừa đủ để nuôi gia đình trong nhiều năm, thì họ tự nhiên sẽ phát sinh nhu cầu kiếm lời từ phần của cải dư thừa này. Khi đó, của cải của anh ta sẽ được chia thành 2 phần: Vốn và Chi tiêu

Vốn thì được sử dụng theo 2 hình thức, và tuỳ thuộc vào mỗi mô hình kinh doanh mà tỷ trọng giữa các loại vốn này thay đổi.

  1. Vốn lưu động: Sử dụng để mua bán và trao đổi hàng hoá liên tục để sinh lời. Phần này có thể gọi là lãi vốn cho dể hiểu với ngôn ngữ hiện đại. Đặc điểm là dòng vốn này sẽ thay đổi chủ sở hữu liên tục.

  2. Vốn cố định: vốn đầu tư vào nhà xưởng, đất đai trồng trọt, trang thiết bị,.. Đặc điểm là dòng vốn này không thay đổi chủ sở hữu.

Bằng cách tương tự, của cải trong xã hội được chia thành 3 phần:

  1. Tiêu dùng: Quần áo, đồ nội thất, thực phẩm dự trữ,... Xét trên góc độ toàn xã hội, doanh thu của người này là tiêu dùng của người khác, vì vậy nó không thực sự làm gia tăng đáng kể của cải trong xã hội.

  2. Vốn cố định: Không thay đổi chủ sở hữu mà vẫn tạo ra lợi nhuận, được phân chia thành 4 loại:

    1. Máy móc trang thiết bị

    2. Nhà xưởng, nhà kho

    3. Cải tạo đất

    4. Kỹ năng hay còn gọi là chi phí giáo dục

  3. Vốn lưu động: Thay đổi vốn chủ sở hữu liên tục, bao gồm:

    1. Tiền

    2. Nhu yếu phẩm dự phòng

    3. Nguyên vật liệu

    4. Thành phẩm


(2026.01.14)

Chương 2. Về tiền, được coi như một nhánh đặc thù trong của cải chung của toàn xã hội, hay về chi phí duy trì nguồn vốn quốc gia - Of money, considered as a particular branch of the general stock of the society or of the expence of maintaining the national capital

Nếu ta trả tiền công 1 tháng cho 1 lao động bằng 1 đồng vàng (đồng guinea), hay ta trả cho anh ta một hối phiếu bằng giấy có giá trị tương đương, vậy thu nhập thực sự của anh ta là gì? Là tiền vàng hay là giấy?

Sự thực thì thu nhập của anh ta 1 cách gián tiếp định giá bằng vàng hoặc giấy bạc nhằm mục đích quy đổi thành hàng hoá khi anh ta có nhu cầu.

Vậy, thu nhập của toàn thể một quốc gia không phải là vàng cũng không phải là tiền lưu hành, mà được tính bằng tổng hàng hoá được mua bằng số lượng vàng hay tiền lưu thông trong nền kinh tế.

Tuy nhiên tổng lượng tiền vàng trong xã hội không bao giờ bằng tổng lượng doanh thu của từng người dân cộng lại. Vì một đồng tiền luân chuyển liên tục từ tay người này sang người khác dưới dạng doanh thu của họ.

Một ngân hàng có thể phát hành các hối phiếu bằng giấy để đưa vào lưu thông thông qua các khách hàng của họ, các khách hàng này phần lớn sẽ sử dụng các hối phiếu này như tiền vàng trong các khoản thời gian dài ngắn khác nhau mà không phải trực tiếp đi rút tiền vàng từ ngân hàng. Khi toàn bộ xã hội đều có chung một niềm tin như vậy, họ trao đổi hối phiếu và hàng hoá, chỉ có một phần nhỏ tầm 20% hối phiếu quay rút tiền vàng hằng năm. Như vậy, ngân hàng chỉ cần duy trì một khoản tiền vàng chỉ bằng 1/5 so với lượng hối phiếu để có thể tạo ra một dòng lưu thông tiền tệ gấp 5 lần số tiền vàng họ thực sự nắm.

Trên phương diện của cải của toàn bộ một quốc gia, giả sử chỉ cần đúng 1,000,000 đồng tiền vàng để có thể đảm bảo lưu thông cho toàn bộ nền kinh tế. Nhưng với phát minh về hối phiếu của ngân hàng, chỉ cần 200,000 đồng vàng làm back-up (cơ sở) cho 1,000,000 hối phiếu lưu thông trên nền kinh tế. Như vậy, nền kinh tế sẽ dư ra 800,000 đồng tiền vàng, số lượng tiền này buộc phải chảy ra ngoài biên giới đất nước để tìm kiếm những cơ hội sinh lợi khác nhau.

Lượng tiền vàng này có thể được sử dụng để carry on the new trade (gọi là carry trade - 1 thuật ngữ cho việc giao dịch ăn chênh lệch tỷ giá) thông qua việc mua đi bán lại các hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau để kiếm lời (làm gia tăng số tiền vàng). Hoặc số tiền vàng này có thể được sử dụng để nhập khẩu nguyên vật liệu, bổ sung vào vốn cố định của quốc gia (làm gia tăng nội lực quốc gia), hoặc nhập khẩu các nhu yếu phẩm bổ sung vào phần vốn tiêu dùng (không tạo ra giá trị nào ngoài việc nâng cao đời sống nhân dân)


Ngược lại với tiền vàng, tiền giấy thì không thể lưu thông quá xa ra khỏi lãnh thổ đất nước, vì vậy, khi số lượng tiền giấy được phát hành ra lớn hơn tổng số lượng hàng hoá lưu thông trong nội địa đất nước, các thương nhân sẽ cảm nhận được sự dư thừa tiền giấy mà không thể làm gì để sinh lợi từ nó. Họ sẽ phát sinh nhu cầu đổi sang tiền vàng để nhập khẩu hàng hoá chẳng hạn, và khi ngày càng nhiều người làm như vậy và khi họ thấy có bất cứ sự khó khăn nào của ngân hàng trong việc chuyển sang tiền vàng (mất thanh khoản ngắn hạn), sẽ có 1 làn sóng lũ lượt đổi giấy sang vàng (bank run).

Nghiêm trọng hơn nữa là khi tiền vàng bị đưa sang nước ngoài qua các thương vụ xuất khẩu, số lượng tiền vàng so với tiền giấy theo đó ngày càng mất cân đối.


(2026.01.27)

Chương 3. Về sự tích luỹ vốn, hoặc lao động sản xuất và phi sản xuất - Of the accumulation of capital, or of productive and unproductive labour.

Có 2 loại lao động:

Lao động sản xuất:

  • Nó tạo ra giá trị có thể tích hợp và thể hiện rõ rệt ở sản phẩm cuối của lao động, từ đó có thể mang lại giá trị thặng dư.

Lao động phi sản xuất

  • Nó không tạo ra giá trị có thể tích hợp và và thể hiện rõ rệt ở bất cứ sản phẩm nào cả, từ đó nó không mang lại giá trị thặng dư.

  • Những ngành nghề thấp kém nhất như người hầu hay cao quý nhất như linh mục, quân đội đều không tạo ra giá trị thặng dư trực tiếp, mà họ gián tiếp duy trì và nâng cao thặng dư lao động cho các ngành sử dụng lao động sản xuất và nhận được bổng lộc từ các thặng dư đó.


Do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa 2 loại lao động dẫn đến tỷ lệ giữa 2 loại phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ giữa phần sản phẩm hàng năm ngay khi phát sinh từ đất đai hoặc từ tay của những người lao động sản xuất với phần vốn.

Đặc biệt là giữa các nước giàu và nước nghèo có tỷ lệ vốn:doanh thu khác nhau tương ứng giữa tỷ lệ giữa sự chăm chỉ (lao động sản xuất):sự nhàn rỗi (lao động phi sản xuất).

Khi vốn tăng hay giảm đều sẽ ảnh hưởng đến năng suất của toàn xã hội, và chỉ có một cách duy nhất để tăng vốn đó là nhập doanh thu vào vốn để tái đầu tư vào tư liệu sản xuất. Vấn đề là lao động sản xuất sẽ luôn có cơ sở để làm việc này. Nhưng lao động phi sản xuất khi nhận được doanh thu về chỉ có thể dùng cho các nhu cầu cơ bản hoặc cho vay bởi vì bản thân họ không thể tạo ra bất cứ tư liệu sản xuất nào.


Một quốc gia không bao giờ bị suy tàn vì sai lầm của khối tư nhân bao gồm chủ yếu là lao động sản xuất mà thường suy tàn vì sai lầm của các lao động phi sản xuất trong các khối nhà nước, những người làm trong bộ máy hành chính, toà án, quân sự, những người trong thời bình thì không tích luỹ của cải gì cho xã hội mà trong thời chiến thì yêu cầu một lượng vốn phi sản xuất khổng lồ.

Tuy nhiên lịch sử cho thấy rằng sự ngu dốt và quản lý yếu kém tạo ra sự hoang phí của cải xã hội luôn luôn nhỏ hơn so với động lực tích luỹ vốn của toàn dân, một nỗ lực đồng đều và liên tục của mỗi người trong việc cải thiện điều kiện sống của anh ta, nguyên tắc khởi nguồn làm sản sinh ra sự giàu có của toàn xã hội.

Giống như cơ thể con người luôn có khả năng tự hồi phục sức khoẻ bất chấp bệnh tật và các đơn thuốc ngớ ngẩn của bác sĩ.

Cũng như một quốc gia, để có thể giàu có, chi tiêu hằng ngày của một người phải mang tính lâu bền hoặc ít nhất phải bổ trợ cho việc giảm chi tiêu trong tương lai.

(2026.02.04)

Chương 4. Về của cải được cho vay lấy lãi - Of stock lent at interest

Của cải dùng để cho vay lấy lãi được coi như là một khoản vốn mà người cho vay mong đợi người vay sẽ hoàn trả lại kèm theo một khoản lãi nhất định trong một khung thời gian nhất định. Người đi vay sử dụng vốn đó như:

  1. Nguồn vốn kinh doanh (capital): Tái sản xuất ra giá trị cùng với lợi nhuận

  2. Ngân quỹ dự trữ (strock reserved): phục vụ có các mụa đích tiêu dùng ngay lập tức sẽ không tạo ra giá trị gì để có thể hoàn trả lại vốn lẫn lãi.

Số lượng của cải dùng để cho vay trên xã hội không phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ dù là giấy hay tiền kim loại, mà phụ thuộc vào số lượng của cải nhàn rỗi mà chủ sở hữu không muốn tự mình sử dụng nó.

Điều đặc biệt ở đây là cùng một khoản tiền được sử dụng để cho vay, có thể theo dây chuyển, được liên tục cho vay và mua hàng hoá qua nhiều chủ thể trong xã hội để cuối cùng có thể tạo ra giá trị giao dịch lên đến 30 lần số vốn ban đầu (hệ số nhân tiền: ông A cho B vay tiền, ông B lại dùng tiền mua hàng hoá của ông C, ông C lại cầm tiền cho D vay,... cứ như vậy chu trình có thể kéo dài đến 30 lần).

Khi số lượng vốn dùng để cho vay tăng lên và nhiều chủ sở hữu vốn phải cạnh tranh các cơ hội sử dụng vốn để cho vay, lãi suất nhất thiết phải giảm xuống.


Luật pháp thường quy định lãi suất cho vay, nhưng về cơ bản luật pháp hoàn toàn không thể can thiệp gì vào việc ấn định lãi suất, mà trên thực tế lãi suất cho vay luôn được thị trường ấn định nhỏ hơn 1 chút so với lợi suất đầu tư của vốn. Và tốt nhất luật pháp cũng nên ấn định lãi suất cho vay tối đa cao hơn mức này một chút mà thôi.

Thông thường, vốn dư thừa sẽ được phân bổ vào cho vay lấy lãi hoặc mua bất động sản, vì một số lợi thế của bất động sản, người ta thường chấp nhận lợi suất đầu tư bất động sản nhỏ hơn lãi suất cho vay một chút. Như vậy, khi lãi suất tăng thì lợi suất đầu tư bất động sản cũng tăng tương ứng dẫn đến giá bất động sản phải giảm tương ứng.


Chương 5. Về những cách sử dụng vốn khác nhau - Of the different employment of capitals

Chính sự đa dạng trong cách sử dụng vốn dẫn đến sự biến động cực kỳ lớn trong số lượng lao động mà những khoản vốn tương đương đưa vào sử dụng, kéo theo đó là những biến động tương tự ở mức độ tăng trưởng của các sản phẩm hàng năm của đất đai và lao động trong nước. Có 4 cách sử dụng vốn:

  1. Người làm nông nghiệp hoặc khai thác mỏ, đánh cá: khai thác các sản phẩm thô cần thiết hàng năm

  2. Manufacturer - Nhà sản xuất: Chế tạo và chuẩn bị các sản phẩm thô đó cho nhu cầu tiêu dùng

  3. Wholesales - Thương nhân: Vận chuyển sản phẩm thô hoặc thành phẩm đến nơi tiêu thụ.

  4. Retails - Bán lẻ: Chia các sản phẩm thành những đơn vị nhỏ đến tay người tiêu dùng trực tiếp


Trong 4 cách trên, không một phương pháp sử dụng vốn nào mang lại nhiều giá trị gia tăng cho xã hội nhiều như đầu tư vốn vào nông nghiệp. Vì lực lượng lao động và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp còn bao gồm cả sức mạnh to lớn của mẹ thiên nhiên mà không phải tổn hao quá nhiều cho chi phí. Sau nông nghiệp thì vốn được đầu tư vào sản xuất cũng mang lại rất nhiều giá trị so với vốn cho thương mại.

Đối với hoạt động thương mại, có thể chia thành 3 loại: Nội thương, ngoại thương và vận tải. Trong đó, nội thương giữa các vùng trong cùng lãnh thổ sẽ mang lại giá trị được tính toán gấp khoảng 12 lần so với hoạt động ngoại thương, vì vốn dùng cho nội thương có thể xoay 3,4 lần trong 1 năm, còn hoạt động ngoại thương thì có thể kéo dài đến 3 năm cho 1 vòng vốn. Hoạt động vận tải là hoạt động ít mang lại giá trị thặng dư nhất, nhưng vì nội thương và ngoại thương đều bị giới hạn bởi năng lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong nước, thì hoạt động vận tải lại không hề bị giới hạn, vì ở đâu đó sẽ luôn thừa mặt hàng nọ và thiếu mặt hàng kia. Các quốc gia càng thịnh vượng thì vốn chảy vào vận tải càng lớn, nhưng vận tải chỉ là nơi chứa vốn dư thừa khổng lồ với lợi nhuận nhỏ chứ không phải là động lực thịnh vượng của một quốc gia.


Comments


bottom of page