top of page
Về nguyên nhân của sự cải tiến trong năng suất lao động và về thứ tự phân phối sản phẩm của sức lao động giữa các tầng lớp khác nhau

Nov 10, 2025

23 min read

0

17

0



Trước khi đi vào nội dung thì tôi muốn gửi một lời chê sâu sắc đến dịch giả, có thể nói là cực kỳ sơ sài, chỉ ở 1 vài trang đầu tiên, các lỗi dịch làm sai hoàn toàn ý nghĩa của nguyên tác, tôi đã phải dừng lại rất nhiều lần để phải đọc bản gốc mới có thể hiểu được ý nghĩa của tác giả. Cụ thể:

  1. Đoạn nói về việc phân công lao động làm gia tăng năng suất thông qua gia tăng tay nghề của người lao động

    Nguyên tác trang 13: The rapidity with which some of the operations of those manufacturers are performed, exceeds what the human hand could, by those who had never seen them, be supposed capable of acquiring.

    Bản dịch trang 43: Tốc độ nhanh chóng trong việc thực hiện một số quy trình trong hoạt động sản xuất vượt qua những gì bàn tay con người có thể đạt được nếu họ chưa tận mắt chứng kiến

    Chat GPT dịch: Tốc độ thực hiện công việc tại một số công đoạn trong các xưởng sản xuất vượt xa mức mà những người chưa từng chứng kiến có thể tưởng tượng rằng bàn tay con người có thể đạt được.

  2. Đoạn nói về việc phân công lao động làm gia tăng năng suất thông qua giảm hao phí thời gian chuyển đổi giữa các công việc khác nhau:

    Nguyên tác trang 13: A country weaver, who cultivates a small farm, must lose a good deal of time in passing from his loom to the field and from the field to his loom.

    Bản dịch trang 43: Một thợ dệt ở nông thôn, canh tác trên một cánh đồng nhỏ, phải mất rất nhiều thời gian để di chuyển khung cửi của mình ra cánh đồng và ngược lại.

    Chat GTP dịch: Một người thợ dệt ở nông thôn, người vừa trồng trọt trên một mảnh ruộng nhỏ, chắc chắn sẽ mất khá nhiều thời gian khi phải di chuyển qua lại giữa khung cửi và cánh đồng.




Sự thịnh vượng của các quốc gia - Adam Smith

The wealth of nations - Adam Smith


Quyển 1: Về nguyên nhân của sự cải tiến trong năng suất lao động và về thứ tự phân phối sản phẩm của sức lao động giữa các tầng lớp khác nhau


Book 1: Of the causes of improvement in the productive powers of labour, and of the order according to which its produce is naturally distributed among the different ranks of the people.


Chương 1. Về sự phân công lao động - Of the division of labour

Sự cải thiện lớn nhất trong năng suất lao động là kết quả của sự phân công lao động. Vì:

  1. Độ khéo léo của mỗi người lao động tăng lên

    Sự phân công lao động khiến công việc của một lao động trở thành một quy trình đơn giản và khi anh ta chỉ làm chuyên môn hoá một công việc trong cả cuộc đời, chắc chắn độ khéo léo của anh ta tăng lên.

  2. Tiết kiệm được thời gian vốn thường bị hao phí khi chuyển từ loại công việc này sang loại công việc khác

    Một người nông dân vừa phải làm vườn vừa làm thợ dệt tại nhà thì việc chuyển đổi giữa vị trí làm vườn và vị trí đặt khung cửi là một khoảng hao phí thời gian rất lớn. Kể cả ở cùng một công xưởng thì việc chuyển đổi công việc với các công cụ và máy móc khác nhau cũng hao phí một khoảng thời gian tương đối đáng kể, chưa kể sự xao nhãng của người lao động.

  3. Phát minh ra máy móc giúp tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm sức lao động.


Chương 2. Về nguyên tắc chi phối việc phân công lao động - Of the principle which gives occasion to the division of labour

Trong một bộ lạc săn bắn và chăn cừu, có một người chuyên tạo ra những chiếc cung tên khéo léo và nhanh hơn bất kỳ ai khác. Anh ta thường xuyên trao đổi chúng để lấy gia súc với những người khác trong bộ tộc; cuối cùng anh ta nhận ra bằng cách này anh có thể có được nhiều thịt hơn cả việc tự đi săn. Tương tự với một thợ dệt quần áo hay một thờ rèn vũ khí. Do đó, sự chắn chắn về khả năng trao đổi phần thặng dư sức lao động của mình cho người khác khuyến kích mọi người nỗ lực hết mình vào một nghề nghiệp cụ thể (phân công lao động).

Vậy làm sao để ta biết được rằng cung tên của mình có thể chắc chắn đổi được thịt? Đó là nhờ sự phát triển lý trí, ngôn ngữ tạo ra những giao kèo giữa những người có các tài năng khác nhau, giữa người khéo léo giỏi làm cung tên và người có sức khoẻ để săn bắt. Trong xã hội loài người, những thiên tài khác biệt nhất biết tận dụng tài năng của nhau; thông qua khuynh hướng buôn bán, trao đổi, và được đưa và một kho chung, nơi mỗi người có thể mua bất kỳ phần nào từ sản phẩm của những người có tài năng mà họ có nhu cầu.


Chương 3. Sự phân công lao động bị giới hạn bởi quy mô thị trường - That the division of labor is limited by the extent of the market

Vì sức mạnh của sự trao đổi tạo cơ hội cho sự phân công lao động, nên phạm vi của sự phân công lao động luôn bị giới hạn bởi mức độ của sức mạnh đó, hay nói cách khác là bị giới hạn theo quy mô của thị trường.


  • Một ngôi làng hẻo lánh thì một người dân có thể phải kiếm cả việc làm mộc, rèn sắt, ủ bia và cả làm bánh mì.

  • Một ngôi làng đông dân hơn thì một người thợ mộc có thể phải đảm nhận tất cả phần công việc chế biến chế tạo có liên quan đến gỗ (tủ, bàn, cày, xây dựng nhà, bánh xe,...)

  • Nhưng ở một thành phố lớn, với giao thông thuỷ nội địa phát triển, một người thợ mộc có thể chuyên tâm đóng bàn ghế quanh năm suốt tháng mà không hết việc.

  • Còn nếu người thợ đó làm việc trong một nhà máy cạnh các hải cảng thì có thể anh ta chỉ cần thực hiện công việc có độ chuyên môn hoá cực cao như đóng chân bàn, và anh ta có thể đóng được hàng trăm chiếc trong một ngày, một số lượng mà cả thành phố cũng không thể sử dụng hết.


Lịch sử phát triển văn mình nhân loại cũng có thấy rằng, các nền văn minh đều phát sinh từ lưu vực sông có các nhánh lớn phục vụ hoạt động giao thương (Lưỡng Hà, sông Hằng, sông MêKong, sông Trường Giang)


(18.11.2025)

Chương 4. Về nguồn gốc và cách sử dụng tiền tệ - Of the origin and use of money

Khi mỗi một người lao động đều thực hiện trao đổi sản phẩm thặng dư từ sức lao động của mình lấy các thặng dư khác của xã hội thì khi đó mỗi người hoạt động không khác gì một thương nhân và xã hội trở thành xã hội thương mại thực sự.

Tuy nhiên việc trao đổi hàng hoá vẫn có những bất tiện nhất định khi mà người thợ không thể trao đổi bánh mì lấy thịt vì người chăn nuôi đã có thừa bánh mì rồi.

Kim loại (sắt ở Sparta, đồng ở La Mã, vàng ở các nước giàu có) thường được sử dụng để làm vật trao đổi trung gian vì rất nhiều đặc tính mà hầu như không một loại hàng hoá nào có thể có được: ít hư hao, có thể chia nhỏ hoặc hợp nhất.

Thử nghĩ xem nếu 1/2 con bò là đủ để đổi 1 ít muối, 1 ít đường, 1 cân ngũ cốc, 1 cái bàn và 1 sợi dây thừng thì:

  • 5 thương nhân khác nhau không thể cùng tụ tập tại 1 địa điểm để bạn tiến hành mổ bò chia cho từng người, và nếu cả 5 người đều thích phần đùi bò thì sao?

  • 1/2 con bò còn lại bạn làm sao có thể bảo quản mà không hư hao?


Tuy nhiên, các thanh kim loại cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm về vấn đề định lượng cũng như câu hỏi về chất lượng - độ tinh khiết của kim loại. Từ đó các loại tiền đồng được đóng dấu dần được đưa vào lưu thông, được đảm bảo bởi nhà nước.


(20.11.2025)

Chương 5. Giá thực tế và giá danh nghĩa của hàng hoá, hay giá tính bằng lao động và giá tính bằng tiền - Of the real and nominal price of commodities, or of their price in labour, and their price in money

Sau khi quá trình phân công lao động được diễn ra hoàn toàn, mỗi người đểu chỉ có thể tự sản xuất được 1 phần rất nhỏ nhu cầu của bản thân và phần nhu cầu còn lại sẽ được trao đổi bằng chính thặng dư lao động của bản thân anh ta để đổi lấy thặng dư lao động của người khác (xã hội).

Vậy, giá trị hàng hoá anh ta sở hữu bằng chính sức lao động thặng dư của mình, hay nói cách khác, lao động chính là thước đo giá trị trao đổi của hàng hoá.

Tuy nhiên, khi trao đổi 2 loại hàng hoá khác nhau, ta không thể so sánh tương quan giữa giá trị của 2 loại lao động khác nhau tạo ra 2 hàng hoá đó, vì bản chất của lao động là tổ hợp của thời gian, sự nỗ lực cơ bắp, sự nỗ lực trí tuệ, sự khéo léo bẩm sinh và cả kinh nghiệm được đúc kết trong nhiều năm tập hợp lại.

Do đó, giá trị trao đổi của hàng hoá được ước tính bằng số lượng tiền.

Tiếp tục đến tiền vàng hay bạc lại có giá trị thay đổi liên tục phụ thuộc vào sức lao động bỏ ra để có thể mang vàng bạc ra thị trường. Ví dụ như khi khám phá ra một mỏ vàng trữ lượng lớn và dễ khai thác, với cùng nỗ lực lao động, ta có được nhiều vàng hơn, khi đó cùng một lượng vàng ta chỉ có thể mua một số lượng hạn chế hơn hàng hoá khác. Như vậy, cùng một lượng tiền vàng có thể mua được nhiều hơn hay ít hơn một số lượng hàng hoá tuỳ thuộc vào độ khan hiếm của vàng và hàng hoá. Nhưng thật ra về bản chất, sự tương quan giữa sức lao động để có được vàng và sức lao động để tạo ra hàng hoá hoàn toàn không hề thay đổi.

Lao động là giá thực tế của hàng hoá; tiền chỉ là giá danh nghĩa của hàng hoá.

(28.11.2025)

Chương 6. Các cấu phần của giá hàng hoá - Of the component parts of the price of commodities

  • Sức lao động: Giá hàng hoá tương ứng hoàn toàn với sức lao động. Nhưng sức lao động thì lại có this và có that, một số sản phẩm yêu cầu lao động thời gian dài, khắc nghiệt và cần độ khéo léo hơn một số sản phẩm khác, từ đó dẫn đến giá cả hàng hoá là khác nhau.

  • Lợi nhuận của vốn đầu tư: Ngay khi một số người đầu tiên trong xã hội bắt đầu tích luỹ được một số tiền vốn ban đầu, họ bắt đầu thực hiện kinh doanh dựa trên sức lao động của người khác. Vậy, tiền lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh này tương ứng với sức lao động của việc giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, lợi nhuận không tương quan hoàn toàn với sức lao động của việc giám sát và điều hành, mà phụ thuộc nhiều hơn vào tổng số vốn đầu tư ban đầu. VD như công sức bỏ ra để giám sát và điều hành 1 xưởng 200 thợ không khó khăn gấp đôi so với 1 xưởng 100 thợ, nhưng lợi nhuận biến động gần như gấp đôi.

  • Tiền thuê đất: Khi đất đai bắt đầu bị tư hữu hoá, giá của các sản phẩm nông nghiệp có thêm một cấu phần mới, đó chính là tiền thuê đất. Khi đó, giá của ngô của thể được cấu thành từ 3 yếu tố: Tiền thuê đất, tiền trả cho sức lao động của người nông dân và tiền lợi nhuận của chủ trang trại.


(01.12.2025)

Chương 7. Giá tự nhiên và giá thị trường của hàng hoá - Of the natural and market price of commodities

Khi giá của một sản phẩm bằng chính xác tiền công, tiền thuê đất, tiền công của lao động và lọi ưnhuaanj từ vốn đầu tư sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường theo lẽ tự nhiên thì đó gọi là giá tự nhiên của hàng hoá.

Giá thực tế mà một loại hàng hoá được bán trên thị trường gọi là giá thị trường.

Giá thị trường được quy định bởi tương quan giữa nguồn cung hàng hoá và nhu cầu mua hàng hoá ở mức giá tự nhiên của hàng hoá, nhu cầu này gọi là nhu cầu thực tế (effectual demand). Chính nhu cầu thực tế này là điều kiện đủ để đưa hàng hoá ra thị trường.


Tương quan giữa nguồn cung hàng hoá và nhu cầu hàng hoá luôn phù hợp với nhau dẫn đến giá thị trường của hàng hoá dẫu có giao động lên xuống nhưng cũng sẽ hội tụ về mức giá trung tâm. Vì người tạo ra hàng hoá có lợi ích khi giới hạn số lượng hàng hoá phù hợp với nhu cầu thực tế, và người tiêu thụ thì có lợi ích khi không đưa hàng hoá vào tình trạng khan hiếm.


Chương 8. Về tiền công lao động - Of the wages of labour

Trong thời kỳ trước khi tư hữu hoá đất đai và nguồn vốn được tích luỹ, người lao động được hưởng toàn bộ lợi ích từ quá trình lao động của mình mà không phải chia sẽ cho cái mà sau này gọi là chủ đất, chủ xưởng hay chủ của nguồn vốn.

Tiền công lao động thường được thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, mà mỗi bên lại có những lợi ích hoàn toàn trái ngược nhau.

Trong đó, người lao động thường bất lợi:

  • Người lao động là số đông, khó tập hợp đồng lòng. Người chủ thì số ít, dễ tập hợp.

  • Người lao động quá quá ít tiền để dành, không thể đấu tranh trong thời gian dài mà không có việc làm. Người chủ có thể sống thoải mái trong nhiều năm với số vốn của mình.

  • Người lao động bị giới hạn luật pháp về đình công và tăng lương. Trong khi không có nhiều giới hạn cho người làm chủ.

Tuy nhiên, luôn có một mức tiền lương tối thiểu mà một cách tự nhiên, người chủ không thẻ ép trả thấp hơn mức đó được. Có nhiều nhận định cho rằng lương tối thiểu của một người lao động thấp kém nhất cũng phải ít nhất = 4 lần tiền nuôi sống bản thân anh ta, để đảm bảo anh ta có thể nuôi dạy được 2 đứa con (chết 2 đứa vì thời ấy tỉ lệ tử vong trước tuổi trưởng thành làm 50%) nhằm duy trì lực lượng lao động trong nhiều hơn 1 thế hệ.

Ngoài ra, người lao động cũng có thể thông qua tay nghề của mình để gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường lao động, khiến cho những người chủ buộc phải trả công cao hơn để thuê.


Khi người chủ có thặng dư, họ sẽ thuê thêm người hầu, người lao động thặng dư sẽ thuê người làm cho chính họ. Như vậy, khi thu nhập vốn của quốc gia nói chung tăng lên, thì nhu cầu đối với người lao động cũng tăng lên, nhu cầu lao động không thể tăng thêm nếu không có sự gia tăng về của cải.

Không phải sự giàu có của quốc gia, mà là sự gia tăng liên tục về của cải trong nước đã làm tăng tiền công lao động. It is not the actual greatness of national wealth, but its continual increase, which occasions a rise in the wages of labours.

Đại Anh (Kingdom of Great Britain) giàu hơn Bắc Mỹ (North America) vào thời điểm đó (xét tổng GDP), nhưng các thuộc địa ở Bắc Mỹ lại có nhu cầu lao động rất lớn và tiền công lao động cũng tăng mạnh tương ứng. Một đời người ở Bắc Mỹ có thể có đến 50 - 100 người con, ở đó, lao động được đền đáp xứng đáng đến nỗi càng sinh con nhiều tạo ra nhiều lao động thì sức lao động đó lại là khởi nguồn mang đến sự giàu có và thịnh vượng cho cha mẹ, thay vì là gánh nặng.

Dấu hiệu của sự thịnh vượng của một quốc gia đó là sự gia tăng dân số liên tục. The most decisive mark of the prosperity of any country is the increase of the number of its inhabitants.

Một goá phụ có 5 đứa con nhỏ là cả một gia tài ở Bắc Mỹ nhưng lại là gánh nặng xã hội ở Anh.

Giá trị của con cái là sự khuyến khích lớn nhất trong tất cả các khuyến khích dành cho việc kết hôn. The value of children is the greatest of all encouragements to marriage

Chính sự gia tăng tiền công lao động đã một cách tự nhiên mở rộng giới hạn của việc sinh con. Giúp người lao động có khả năng trang trải và nuôi dưỡng con cái tốt hơn, từ đó gia tăng tỷ lệ sinh và quan trọng hơn cả là tỷ lệ sống sót cho đến trưởng thành.


(08.12.2025)

Chương 9. Lợi nhuận của vốn - Of the profits of stock

Lợi nhuận đến từ vốn biến động nhiều hơn sự biến động của tiền công lao động rất nhiều, trong một số trường hợp, có thể biến động theo từng giờ tương quan với sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường.

Ở bất kỳ độ chính xác nào thì đều không thể xác định được lợi nhuận trung bình trên vốn ở cả hiện tại hay trong quá khứ. Nhưng ta có thể xây dựng được một số khái niệm cho lợi nhuận trung bình từ lợi nhuận có được từ tiền.

Lợi nhuận có được từ tiền hay còn gọi là lãi suất của tiền, chính là khoản chi phí mà một người phải trả để sử dụng tiền, rõ ràng khi lợi nhuận từ vốn cao thì chi phí sử dụng vốn cũng phải tăng cao tương ứng, và ngược lại.


Đối với các quốc gia thịnh vượng, nguồn vốn dồi dào làm tăng cạnh tranh trong kinh doanh và nhân lực hạn chế kéo chi phí tăng cao càng làm co hẹp biên lợi nhuận từ vốn, và rõ ràng rằng lãi suất cho vay của tiền cũng thấp - phản ánh nhận định trên.

Các quốc gia nghèo hơn thì ngược lại, không đủ vốn làm lãi suất tăng cao, nhân công dư thừa làm giảm chi phí kinh doanh, từ đó biên lợi nhuận từ vốn cũng tăng theo.


Ta thấy rõ rằng một khoản vốn lớn dù có lợi nhuận nhỏ vẫn mang lại lợi ích lớn hơn một khoản vốn nhỏ có lợi nhuận lớn.

Tiền lại đẻ ra tiền, khi bạn đã có một chút tiền, thường sẽ dễ dàng để có được nhiều tiền hơn. Cái khó là làm sao có được chút tiền ban đầu đó. Money makes money. When you have got a little, it is often easy to get more. The great difficulty is to get that little.

Lợi nhuận kinh doanh vốn sau khi trừ đi chi phí chính là lợi nhuận gộp và phải trừ thêm phần rủi ro tổn thất thường xuyên trong kinh doanh để trở thành lợi nhuận ròng. Và mức lợi nhuận ròng này ở mức tối thiểu cũng phải lớn hơn zero.

Như vậy, ở các thể chế chính trị và luật pháp khác nhau, hoạt động cho vay được bảo hộ ở các mức độ khác nhau sẽ dẫn đến việc dễ dàng hay khó khăn trong việc thu hồi vốn vay, điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận trên vốn cũng như lãi suất cho vay tiền.

Bên cạnh đó, bởi vì lao động luôn luôn có một mức giá nào đó mà người kinh doanh vốn phải trả cho nhân công và không thể thoái thác, nhưng tiền thuê đất thì trong nhiều trường hợp có thể bị bỏ qua. Như vậy, lợi nhuận trên vốn đạt cực đại khi tiền thuê đất bằng zero. (hãy nhớ rằng giá của hàng hoá bao gồm: sức lao động, tiền thuê đất và lợi nhuận đầu tư vốn).


Nước giàu với chi phí nhân công cao vẫn có thể cung cấp hàng hoá rẻ hơn nước nghèo với nhân công thấp, khi chi phí vốn (lãi suất) hay lợi suất (lợi nhuận trên vốn) được kỳ vọng thấp hơn ở nước giàu có thể dư bù đắp cho tiền lương nhân công cao.

Trên thực tế, so với mức lương cao thì lợi nhuận cao làm cho giá sản phẩm tăng mạnh hơn nhiều. In reality, high profits tend much more to raise the price of work than high wages.

VD: khi tăng 5% lương của tất cả nhân công trong ngành sản xuất vải lanh (thợ hồ vải, thợ kéo sợi, thợ dệt,...) thì cấu thành giá sản phẩm cuối chỉ là cấp số cộng của các loại chi phí. Tuy nhiên khi người chủ của xưởng hồ, xưởng kéo sợi và xưởng dệt yêu cầu lợi nhuận tăng 5% thì cấu thành giá sản phẩm cuối lại tăng theo cấp số nhân. Một sản phẩm trải qua càng nhiều công đoạn thì càng bị đội giá lên cao.


(10.12.2025)

Chương 10. Tiền công và lợi nhuận trong các cách sử dụng lao động và vốn khác nhau - Of wages and profit in the diferent employments of labour and stock


Phần 1. Bất bình đẳng phát sinh từ bản chất của công việc - Part 1. Inequalities arising from the nature ò the emplyments themselves


Tiền công và lợi nhuận của một công việc bị tác động thông qua bản chất của công việc bao gồm:


1. Sự dễ chịu của công việc - agreeableness

Sự khó khăn, điều kiện vệ sinh và danh dự xã hội quyết định nhiều đến tiền lương của một công việc. Người đao phủ không có danh dự lại có thu nhập cao hơn người thợ mỏ phải làm việc dưới đất và dơ bẩn, người thọ mỏ lại có thu nhập cao hơn người thợ rèn được làm việc trên mặt đất, ít nguy hiểm. Thợ rèn lại có thu nhập cao hơn thợ dệt vì họ làm việc trong môi trường nóng bức và dơ bẩn. Cuối cùng thợ dệt vẫn có thu nhập cao hơn thợ may vì công việc của họ khó khăn hơn.

Tương tự, sử dụng vốn để mở một khách điếm sẽ bị xã hội xem thường nhưng lại mang lại lợi nhuận trên vốn cao hơn các nghề cao quý khác.

Danh dự chiếm một phần lớn phần thường dành cho những nghề danh giá. Honour makes a great part of the reward of all honorable professions.

2. Sự dễ dàng khi học việc - easiness

Mức thu nhập của một người lao động mà họ phải bỏ ra nhiều chi phí để học nghề tối thiểu phải trên mức lương trung bình cộng với phần đủ để trang trải cho chi phí học nghề khấu hao trong một khoản thời gian nhất định

Tương tự, việc đầu tư vốn vào một cái máy móc công nghệ cao, kỳ vọng thay thế được nhiều lao động thì cần có mức lợi nhuận cao tương ứng để trừ lại chi phí khấu hao máy móc theo hết tuổi thọ của máy.


3. Tính lâu dài của công việc - constancy

Thợ hồ là một nghề rất dễ học và hầu như không tốn nhiều chi phí học, nhưng lại được trả công khá hậu hĩnh so với mức lương công nhật trung bình của toàn xã hội. Mức lương cao đó rõ ràng không phải bù đắp cho kỹ năng mà bù đắp cho sự bấp bênh của công việc, khi họ không thể làm việc khi thời tiết cực đoan và nhu cầu sử dụng thợ hồ không phải là một nhu cầu thương trực.

Thợ mộc cần nhiều năm và nhiều chi phí để học kỹ năng nhưng thường được trả lương thấp hơn thợ hồ, vì họ có thể làm việc không bị gián đoạn bởi thời tiết và nhu cầu đồ gỗ lớn tạo công ăn việc làm quanh năm.



4. Độ tin cậy đối với những người thực hiện công việc - trust

Chúng ta giao phó tính mạng cho bác sĩ, danh dự cho luật sư, họ là những người lao động cao cấp và có địa vị, mức tiền công cũng phải cao tương ứng với địa vị ấy.

Trái lại, vốn được sử dụng để kinh doanh vào các ngành nghề khác thì có biên lợi nhuận khác nhau chứ không phụ thuộc vào mức độ tin cậy của thương nhân.


(2025.12.15)

5. Khả năng thành đạt của công việc - success

Trong một trò chơi sổ số công bằng, 1 người thắng cuộc sẽ hưởng toàn bộ những tổn thất của tất cả những người thua cuộc cộng lại. Có thể nói rằng tổng thu nhập sẽ bằng tổng chi phí.

Tương tự, trong nghề đóng giày, nếu cộng hết các chi phí của tất cả những người thợ đóng giày bỏ ra để học nghề, hành nghề kể cả các thợ thất bại hay thành công thì có vẻ như sẽ thấp hơn tổng thu nhập của toàn bộ những người này sẽ lớn hơn chi phí bỏ ra. Ta thấy rằng số lượng thợ đóng giày thành công tương đối lớn so với số lượng thợ thất bại làm cho thu nhập của những người thành công không thể quá cao.


Ngược lại, trong nghề luật, với tỷ lệ thành công giả dụ là 1/20 và anh ta phải học nghề cho đến năm 40 tuổi mới có thể hành nghề kiếm sống được. Tổng lượng chi phí bỏ ra cho nghề luật là rất lớn, vì vậy thiểu số những luật gia thành công sẽ được chia số thu nhập khổng lồ. Tuy nhiên, tổng thu nhập có vẻ như vẫn nhỏ hơn so với tổng chi phí đã bỏ ra.


Thu nhập từ vốn cũng biến đổi tương ứng với sự chắc chắn hoặc không chắc chắn của thu nhập. Nhìn chung, kinh doanh ngành nghề có mức độ rủi ro cao thì sẽ mức độ tương quan cao với lợi nhuận cao. Và có lẽ kinh doanh những gì bị pháp luật cấm thì lợi nhuận mang lại là cao nhất.


(2025.12.20)

Phần 2. Những bất bình đằng do chính sách của Châu Âu - Part 2. Inequalities occasioned by the policy of Europe.

Xã hội không tạo điều kiện cho lao động và vốn hoạt động một cách tự do hoàn toàn mà luôn có những rào cản chính sách.


  1. Giới hạn sự cạnh tranh

    Luật pháp hoặc nội quy của các phường hội quy định số lượng học viên học việc tối đa mà một người thợ có thể nhận để dạy trong một thời điểm và đồng thời cũng quy định thời gian học nghề tối thiểu.

    Các phường hội có tên gọi là Đại học - University mà chúng ta sử dụng ngày nay. thông thường thời gian học nghề rơi vào khoảng 7 năm, sau đó đối với các ngành kỹ thuật, họ sẽ được công nhận là "thợ cả" - master, hay trong các ngành khoa học nghệ thuật gọi là "thạc sĩ" - master hay "giáo viên" - teacher hay "tiến sĩ" - doctor. Tuy nhiên, về mặt ký thuật trong thực tế thì việc thợ có đủ tay nghề làm ra sản phẩm hay không là lợi ích của người chủ chứ không phải trách nhiệm của nhà làm luật và khách hàng chỉ nhìn làm tem mác của sản phẩm để chứng thực chất lượng chứ không hề quan tâm thợ đã học nghề đủ 7 năm hay chưa.

    Như vậy, các chính sách này gây ra sự bất bình đẳng nghiêm trọng trong cách sử dụng lao động và tiền vốn bằng cách hạn chế sự cạnh tranh trong một số ngành nghề nhất định và tại một số vị trí nhất định.


  2. Gia tăng sự cạnh tranh

    Nhiều ngành nghề được ưu tiên đào tạo bằng ngân sách/quỹ/học bổng, điển hình nhất là các công việc trong nhà thờ. Đào tạo ra một số lượng lớn lao động mà họ gần như không phải bỏ ra chi phí gì dẫn đến mức tiền công giảm sâu xuống dưới mức tự nhiên. Kết quả là mức lương của một giáo sĩ luôn thấp hơn so với lương của một người thợ công nhật đơn giản nhất.

    Để tái cân bằng lại tiền công luật pháp tuy thường xuyên cố gắng nâng mức lương cho các công việc liên quan đến tôn giáo và giảm mức lương của thợ công nhật, nhưng luôn luôn thất bại vì không gì có thể cản một giáo sĩ chấp nhận tiền công thấp tương ứng với chi phí học nghề của họ và không ai có thể cản một người trả lương cao cho một người thợ có tay nghề cao.


  3. Giới hạn sự luân chuyển vốn và lao động giữa các ngành nghề và giữa các địa điểm

    Quy chế học nghề đã cản trở dòng lưu thong tự do của lao động từ công việc này sang công việc khác, ngay cả tại cùng một địa phương. Đặc quyền của các phường hội ngăn cản lao động lưu thông từ nơi này sang nơi khác, ngay cả trong cùng một ngành nghề.

    Đơn cử như quy định về nơi cú trú của người nghèo ở Anh gây hạn chế rất lớn cho việc tự do di chuyển của người lao động giữa các giáo phận khác nhau, từ đó gây ra sự chênh lệch lớn về tiền công lao động cũng như lợi nhuận trên vốn giữa các khu vực, dù là tiếp giáp nhau.


(24.12.2025)

Chương 11. Về giá thuê đất - Of the rent of land

Theo như quan sát, mức tiền lương và lợi nhuận từ vốn là cao hay thấp sẽ quyết định toàn bộ mức giá đưa ra thị trường (vốn + lãi phù hợp) của sản phẩm là cao hay thấp. Phần còn lại, tuỳ thuộc vào thị trường tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có các giá bán của sản phẩm tăng giảm khác nhau, đây mới là yếu tố quyết định giá thuê đất của sản phẩm.


Phần 1. Về sản phẩm từ đất đai đủ để trả tiền thuê đất - Of the produce of land which always affords rent

Trong mọi tình huống, không những đất đai luôn sản xuất ra nhiều lương thực thực phẩm đủ để trang trải hết các chi phí và lợi nhuận cần thiết để đưa sản phẩm ra thị trường, mà nó còn mang lại phần thặng dư còn đủ để chi trả tiền thuê đất.

Ban đầu những vùng đất hoang ở xa khó canh tác thì đều trồng cỏ cho gia súc, các vùng đất gần thành thị thì sử dụng để trồng ngũ cốc với nhiều công lao động hơn, dẫn đến giá thịt rẻ hơn giá bánh mỳ. Tuy nhiên sau khi canh tác nông nghiệp được phát triển rộng rãi, mối tương quan lại đảo chiều, và thịt thì đắt tiền hơn bánh mỳ. Khi đó, tương ứng với giá thịt tăng cao, tiền thuê đất để nuôi gia súc cũng tăng lên tương ứng.


(2026.01.05)

Phần 2. Về những sản phẩm từ đất mà có khi có, có khi không đủ để chi trả tiền thuê đất - Of the produce of land which sometimes does, and sometimes does not, afford rent.

Từ xưa đến nay, chỉ có đất được cho thuê để trồng trot thực phẩm cho con người là sẽ đảm bảo luôn luôn có thể thu nhập đủ để trả cho mọi khoản chi phí để đưa sản phẩm ra thị trường và tiền thuê đất. Ngoài thực phẩm ra, thì tuỳ hoàn cảnh, các mục đích sử dụng đất khác thì đôi lúc có thể dư trả tiền thuê, đôi lúc lại không đủ trang trải chi phí.

Sau thức ăn, thì quần áo và nơi ở là 2 mục đích thiết thực nhất cho nhu cầu cơ bản của con người.

Quần áo: ở các đất nước vùng cao nguyên phổ biến việc chăn nuôi cừu làm thức ăn, thì phần da cừu làm quần áo chăn mền sẽ dư thừa và nếu không được xuất khẩu đi các vùng khác, thì có thể bị tiêu huỷ như một thứ không có giá trị gì, khi đó, chủ đất của các đồng cỏ chăn cừu sẽ không nhận được tiền thuê đất.

Nhưng khi họ đã bắt đầu xuất khẩu được lông thú đi khắp nơi, tiền thu về có thể dư để chi trả mọi chi phí từ chăn nuối, thuộc da đến chi phí vận chuyển quần áo, và kể cả tiền thuê đất cho chủ các đồng cỏ. Như vậy, chỉ khi sản phẩm tạo ra trên đất mang lại giá trị thặng dư sau khi trừ đi hết các chi phí, thì khi đó mới có thể chi trả tiền thuê cho chủ đất. Và tiền thuê sẽ cao hay thấp tuỳ thuộc vào thặng dư nhiều hay ít.

Nhà ở: gỗ xây nhà thì không thể vận chuyển dễ như quẩn áo, vì vậy chủ của các cánh rừng hầu như không thu được gì từ rừng của họ. Trừ một số trường hợp đặc biệt có thể xuất khẩu gỗ và đá đi các thị trường phù hợp để xây nhà hay lát đá trên đường ở các vùng lân cận các khu đô thị lớn.


Ban đầu, 1% sức lao động có thể đủ để cung cấp quần áo và nơi ở cho cả một xã hội, nhưng 99% sức lao động còn lại chưa chắc đã đủ để cung cấp thực phẩm cho họ.

Sau khi nông nghiệp phát triển, 50% xã hội sản xuất thực phẩm để nuôi sống toàn xã hội, từ đó ta có 50% lao động dư thừa để sản xuất những thứ khác phức tạp hơn.

Hãy nhớ rằng thực phẩm thì có nhu cầu hữu hạn do kích thước của dạ dày, nhưng các vật dụng khác thì bạn có thể sở hữu vô hạn, từ đó nhu cầu của con người ngày càng mở rộng ra, tiền thuê đất được chi trả cho chủ đất sản xuất các mặt hàng ngoài thực phẩm dần dần tăng lên theo độ giàu có của từng quốc gia.


(2026.01.08)

Phần 3. Về những biến đổi trong tỷ lệ giữa giá trị những sản phẩm luôn có khả năng chi trả tiền thuê đất và những sản phẩm đôi khi có, đôi khi không thể làm vậy - Of the variations in the proportion between the respective values of that sort of produce which always affords rent, and of that which sometimes does and sometimes does not afford rent

Giá trị của loại sản phẩm đôi khi có, và đôi khi không chi trả được tiền thuê, sẽ luôn tăng tương xứng với loại sản phẩm luôn chi trả được tiền thuê.

Khi thủ công nghiệp và công nghiệp phát triển, nhu cầu với các vật liệu sử dụng cho may mặc và xây dựng, các hoá thạch và khoáng sản dưới lòng đất, kim loại và đá quý sẽ ngày càng lớn hơn, và có thể đổi được số lượng thực phẩm ngày càng nhiều hơn; nói cách khác, sẽ ngày càng trở nên đắt đỏ hơn.

Related Posts

Comments

Share Your ThoughtsBe the first to write a comment.
bottom of page