top of page
Trăm năm cô đơn - Gabriel García Márquez

Sep 30, 2025

7 min read

0

21

0



...

Lời đồn đại nói rằng sở dĩ ngài đại tá không muốn hay biết gì về hoàn cảnh đất nước là vì ngài đã làm giàu nhờ xưởng kim hoàn của mình, khi đến tái Ursula đã khiến cụ phải bật cười. Với cảm quan thực tế rất sắc nhạy của mình, cụ không thể hiểu được công việc kinh doanh của ngài đại tá hết đổi những con cá vàng lấy những đồng tiền vàng, để rồi sau đó lại biến những đồng tiền vàng thành những con cá vàng và cứ như thế luân hồi mĩa mãi theo cách thức: càng phải lao động nhiều hơn khi bán được nhiều hơn, để thoả mãn cái vòng luẩn quẩn vô vọng. Quả thế thực, đói với ngài đại tá, điều khiến ngài thích thú không phải là kinh doanh mà là lao động. Ngài phải tập trung tâm tưởng đến cao độ để xếp các vảy, để khảm con người vàng bé tí hin vào đôi mắt, để dát mỏng các vây trước vây sau, để cắm đuôi cho con cá, mà do đó trong tâm tưởng ngài không có chỗ trống để cho nỗi thất vọng vì chiến tranh lẫn vào.

...

Một buổi sáng nọ, ngài thấy Ursula ngồi khóc dưới gốc cây dẻ, dưới chân người chồng đã chết. Ngài đại tá Aureliano Buendia là người duy nhất trong nhà không tiếp tục nhìn thấy cụ già cường tráng tàn tạ đi trong nửa thế kỷ sương gió. "Hãy chào cha đi," Ursula nói với ngài. Ngài dừng lại chốc lát trước cây dẻ và một lần nữa nghiệm thấy rằng khoảng trống kia cũng không gây ấn tượng gì đối với ngài cả.

"Mẹ bảo gì?" ngài hỏi.

"Trông ông ấy rất buồn, Ursula trả lời. "Chắc ông ấy nghĩ rằng con sẽ chết."

"Hãy nói với cha rằng," ngài đại tá mỉm cười nói,

"người ta không chết khi phải chết, mà sẽ chết khi nào có thể chết." - đại tá Aureliano Buendia-

...


Amaranta vẫn khâu đồ liệm của mình. Fernanda không hiểu vì sao bà trẻ vẫn thường viết thư cho Meme, còn gửi cả quà cho nó, trái lại thậm chí không hề nói tới Jose Arcadio. "Đến chết chúng cũng chẳng hiểu tại sao," Amaranta trả lời khi Ferrnanda hỏi qua Ursula, và câu trả lời ấy đã để lại trong tim bà một ẩn số không bao giờ được làm sáng tỏ.

Suốt đời, bà lúc nào cũng khâu vá khăn tang, vải liệm. Có thể nói rằng ban ngày bà khâu, ban đêm lại tháo ra, và bằng cách ấy không phải bà muốn đánh bại sự cô đơn, mà hoàn toàn ngược lại, bà muốn duy trì nó.

...

Thần chết đã cho phép bà làm khăn liệm thật cầu kỳ và thật đẹp mắt như bà mong muốn, nhưng cũng hết sức danh giá như bà đã làm khăn liệm cho Rebeca. Và thần chết còn cho bà biết bà sẽ chết không đau đớn, không sợ sệt, không cay đắng vào ngay đêm may xong tấm vải liệm cho chính mình. Vì cố ý kéo dài thời gian, Amaranta tự mình kéo lấy sợi lanh, rồi tự tay dệt lấy tấm vải. Bà làm rất cẩn thận đến mức chỉ với công việc này đã tốn mất bốn năm. Sau đó, bà bắt đầu công việc thêu thùa trên tấm khăn liệm. Vậy là ngày kết thúc công việc không thể tránh được ấy cứ ngày một nhích gần đến và do đó, bà ngày càng hiểu rõ rằng chỉ có phép màu mới cho phép bà kéo dài công việc đến sau ngày chết của Rebeca, nhưng chính sự tập trung tâm sức làm việc lại trả lại cho bà lòng thanh thản vốn bà còn thiếu để chấp nhận ý nghĩ bất hạnh. Đó là lúc bà hiểu được cái vòng luẩn quẩn có phần bệnh hoạn trong việc sản xuất - tiêu thụ để rồi sản xuất - tiêu thụ những chú cá vàng của đại tá Aureliano Buendia.


...


Người đầu tiên của dòng họ bị trói vào một gốc cây và kiến đang ăn người cuối cùng của dòng họ.

Ở bất kỳ một hành động nào trong cuộc đời mình, Aureliano chưa bao giờ minh mẫn như khi anh quên đi những người thân của mình đã chết và quên đi nỗi đau thương cho họ, anh lấy then chắn cửa của Fernanda đóng chặt các cửa lại để ở yên trong nhà vì lúc đó anh hiểu rõ số phận của mình đã được viết trên những tấm da thuộc của cụ Melquiades. Anh thấy chúng mới nguyên nằm bên cạnh những cây cối thời tiền sử và những vũng bùn ẩm ướt cùng những côn trùng rực sáng từng ném ra khỏi phòng tất cả dấu ấn của con người trên mặt đất, anh không còn đủ bình tĩnh để đưa những tấm da thuộc ra chỗ sáng, trái lại, anh đứng nguyên ở đấy, vẫn nhìn rất rõ chứ, như thể chúng được viết bằng tiéng Tây Ban Nha dưới ánh sáng rực rỡ lúc đang trưa. Anh bắt đầu đọc thành lời những trang viết đã được mã hoá ấy. Đó là chuyện về gia đình được cụ Melquiades viết tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất trước đây một trăm năm. Cụ đã viết nó bằng tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, cụ đã mã hoá những bài thơ có vần của hoàng đến Augustus bằng mật mã riêng và những bài thơ không vần bằng mật mã của quân đội Hy Lạp. Ẩn ý cuối cùng của cụ mà Aureliano bắt đầu nhận ra khi anh thôi không để cho tình yêu của Amaranta Ursula làm cho lú lẫn, nằm ở ngay chỗ Melquiades không sắp đặt các sự kiện hteo thứ tự thời gian mà tập trung cả một thế kỷ những chuyện hằng ngày lại, làm cho chúng cùng tồn tại trong một lúc. Hào hứng trước thành tựu đạt được, Aureliano đọc to lên, không hề vấp váp, những bài nhã ca mà chính cụ Melquiades đọc cho Arcadio nghe và thực ra đó là những lời tiên tri về sự hành hình của ông, rồi anh đọc lời tiên đoán trước về sự ra đời của người con gái đẹp nhất trần gian hoàn toàn bay lên trời, rồi đọc được cội nguồn của hai anh em sinh đôi sau đó đã từ bỏ việc giải mã thứ văn chương khó hiểu được viết trên những tấm da thuộc, họ phải từ bỏ không vì họ thiếu quyết tâm và nhẫn nại mà vì những ý định của họ đến sớm quá, trước khi những tấm da thuộc đượ trăm tuổi. Trong lúc này, vì háo hức muốn biết nguồn gốc của mình, Aureliano liền bỏ cách một đoạn. Lúc đó bắt đầu nổi gió, một thứ gió mới khởi phát, còn yếu ớt mang theo nó những tiếng nói của quá khứ, những tiếng thì thào của hoa phong lữ cổ xưa, và những tiếng thở dài não nuột của những ai đã tỉnh mộng trước những nỗi hoài nhớ da diết nhất. Nhưng Aureliano không nhận ra nó vì cũng trong lúc đoánh đã phát hiện ra những dấu hiệu sẽ nói rõ con người mình ở trong một người ông hám của và háu gái từng để cho sự nhẹ dạ lôi mình đi qua hoang mạc để tìm một người đàn bà và đã không đem lại hạnh phúc cho bà. Aureliano nhận ra ông ngoại mình và tiếp tục dò tìm những con đường lẩn quất của cha mẹ mình, để rồi sau đó anh bắt gặp cái giây phút hoài thai của mình giữa những con bò cạp và đàn bướm vàng trong một nhà tắm lúc hoàng hôn, nơi một anh thợ cơ khí đang thoả cơn thèm khát nhục dục của mình với một người đàn bà nổi loạn đã hiến thân cho anh ta. Anh đang quá sửng sốt đến mức không nhận ra sự chuyển mình rùng rùng lần thứ hai của cơn gimà sức mạnh bão tố của nó đang giật đứt những bản lề cửa, lật tung mái hiện nhà phía Đông, và làm cho rạn nứt sàn xi măng. Chỉ đến lúc ấy anh mới phát hiện ra rằng Amaranta Ursula không phải là chị gái mình, mà là dì ruột của mình, và rằng tên cướp biển Francis Drake đã tấn công Riohacha nhằm làm cho họ tìm kiếm lẫn nhau hoài trong cái mê cung cùng huyết thống rắc rối nhất của dòng họ mình, mãi đến khi đẻ ra một con vật huyền thoại sẽ kết thúc nó.

“tên cướp biển Francis Drake đã tấn công Riohacha”: đây là một sự kiện lịch sử được tác giả lồng ghép. Francis Drake là một hải tặc nổi tiếng người Anh, từng cướp phá các thành phố ven biển Caribe của Tây Ban Nha, trong đó có Riohacha (một cảng ở Colombia). “nhằm làm cho họ tìm kiếm lẫn nhau hoài”: tác giả dùng giọng văn huyền ảo, ám chỉ cuộc đời và số phận của gia tộc Buendía. Các thành viên cứ mãi lặp đi lặp lại sự cô đơn, hoang mang, tìm kiếm sự gắn kết nhưng không bao giờ tìm thấy sự giải thoát. “trong cái mê cung cùng huyết thống rắc rối nhất của dòng họ mình”: gia tộc Buendía có quan hệ huyết thống phức tạp (nhiều đời kết hôn cận huyết, nhiều người trùng tên José Arcadio hay Aureliano), khiến cho hậu duệ lạc lối trong một “mê cung” số phận và máu mủ.

Lúc này Macondo chỉ còn là một cơn lốc dữ dội đầy bụi và rác rưởi cứ xoay tít mù nhờ cơn dông bão từng được nói tới trong Kinh Thánh đang vần vũ, đó cũng là lúc Aureliano lật lướt nhanh mười một trang để khỏi mất thời gian vào những sự kiện đã quá quen biết, và khi bắt đầu giải mã đoạn nói về cái giờ phút mình đang sống, anh giải mã theo cách mình sống trong các sự kiện ấy. Và trong lúc giải mã trang cuối cùng, bằng cách đoán trước, anh đọc nó như thể anh đang nhìn vào một tấm gương biết nói. Lúc này, anh lại bỏ qua một quãng để đọc trước những lời tiên tri và để xác định ngày và hoàn cảnh xảy ra cái chết của chính mình. Tuy nhiên, trước khi đọc đến bài thơ cuối cùng, anh đã hiểu rằng mình sẽ chẳng bao giờ ra khỏi căn phòng này nữa, bởi anh đã thấy trước rằng thành phố những tấm gương sẽ bị gió cuốn đi và sẽ bị xoá sạch khỏi ký ức con người trong lúc anh, Aureliano Babilonia, giải mã xong các tấm da thuộc và trất cả những gì được viết trong những tấm da thuộc này sẽ không được lặp lại và mãi mãi không bao giờ được lặp lại.

Bởi vì những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn không có dịp may lần thứ hai để trở lại làm người trên mặt đất này.

Related Posts

Comments

Share Your ThoughtsBe the first to write a comment.
bottom of page